Thứ Sáu, 29 tháng 1, 2016

Các khoản trích lập dự phòng và

những khoản trích lập dự phòng chính mang tác động đáng nhắc tới kết quả phân phối – kinh doanh của DN mà những nhà đầu tư bắt buộc nắm bắt được bản chất trong quá trình xem xét báo cáo tài chínhcủa DN , người mua buộc phải lưu ý các điều sau đây:

Khoản trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho, trích lập dự phòng giảm giá các khoản đầu tư tài chính, các khoản trích lập dự phòng nợ bắt buộc thu khó đòi và dự phòng các khoản bảo hành sản phẩm, hàng hoá, công trình xây lắp (đối với các DN xây lắp).

Bản chất của các khoản trích lập dự phòng

Hiểu chung nhất, 1 khoản dự phòng là khoản nợ buộc phải trả không chắc chắn về giá trị hoặc thời gian. Việc trích lập dự phòng được hiểu là việc ghi nhận vào giá tiền của DN những chênh lệch nhỏ hơn của giá trị tài sản của DN tại thời điểm lập BCTC và giá trị của những tài sản này tại thời điểm sắm, hoặc ghi nhận 1 khoản dự phòng tương ứng với những khoản nợ phải trả (trên cơ sở đưa ra một ước tính đáng tin cậy), vì nó là những nghĩa vụ về nợ phải trả hiện tại và kiên cố sẽ làm giảm sút các lợi ích kinh tế để thanh toán những nghĩa vụ về khoản nợ cần trả đấy. Trong đó:

Dự phòng giảm giá hàng tồn kho: là dự phòng phần giá trị bị tổn thất do giá vật tư, thành phẩm, hàng hóa tồn kho bị giảm (Thông tư 13/2006/TT-BTC hướng dẫn chế độ trích lập và dùng các khoản dự phòng…).

Số dự phòng giảm giá hàng tồn kho được lập là số chênh lệch giữa giá gốc của hàng tồn kho to hơn giá trị thuần mang thể thực hiện của chúng (Chuẩn mực Kế toán Việt Nam số 02 – Hàng tồn kho).

Thuật ngữ: giá gốc hàng tồn kho được hiểu là giá trị của hàng tồn kho được ghi nhận tại thời điểm mua căn cứ trên giá hóa đơn và các giá thành khác sở hữu liên quan trực tiếp tới quá trình mua hàng và cung cấp để có được hàng tồn kho ở địa điểm và trạng thái sẵn sàng sử dụng hoặc tiêu thụ như: chi phí gia công, chế biến, giá tiền vận chuyển, lưu kho, bãi…

Thuật ngữ giá trị thuần mang thể thực hiện được của hàng tồn kho được hiểu là giá trị còn lại của giá bán hàng tồn kho sau khi trừ đi những tầm giá ước tính cho việc hoàn thành và tiêu thụ sản phẩm tại thời điểm lập báo cáo tài chính;

Trích lập dự phòng giảm giá đầu tư tài chính: là dự phòng phần giá trị bị tổn thất do các dòng chứng khoán đầu tư của DN bị giảm giá; giá trị những khoản đầu tư tài chính bị tổn thất do tổ chức kinh tế mà DN đang đầu tư bị lỗ (Thông tư 13/2006/TT-BTC);

Dự phòng nợ phải thu khó đòi: là dự phòng phần giá trị bị tổn thất của những khoản nợ nên thu quá hạn thanh toán, nợ cần thu chưa quá hạn nhưng sở hữu thể không đòi được do khách nợ ko sở hữu khả năng thanh toán (Thông tư 13/2006/TT-BTC);

Dự phòng bảo hành sản phẩm, hàng hoá, công trình xây lắp: là dự phòng tầm giá cho các sản phẩm, hàng hoá, công trình xây lắp đã bán, đã bàn giao cho các bạn nhưng DN vẫn có nghĩa vụ nên tiếp tục sửa chữa, hoàn thiện theo hợp đồng hoặc cam kết mang các bạn (Thông tư 13/2006/TT-BTC).

Nguyên tắc trích lập

Theo Chuẩn mực Kế toán Việt Nam số 18 – "Các khoản dự phòng, tài sản và nợ tiềm tàng", 1 khoản dự phòng chỉ được phép trích lập khi thỏa mãn đủ các điều kiện sau:

DN sở hữu nghĩa vụ nợ hiện nay (nghĩa vụ pháp lý hoặc nghĩa vụ liên đới) do kết quả từ một sự kiện đã xảy ra.

Sự giảm sút về những tiện lợi kinh tế với thể xảy ra dẫn tới việc đề nghị nên thanh toán nghĩa vụ nợ;

Đưa ra được một ước tính đáng tin cậy về giá trị của nghĩa vụ nợ đó.

Sự kiện đã xảy ra

1 sự kiện đã xảy ra làm phát sinh nghĩa vụ nợ bây giờ được gọi là một sự kiện ràng buộc. một sự kiện trở nên sự kiện ràng buộc trường hợp DN không với sự lựa chọn nào khác ngoại trừ việc thanh toán nghĩa vụ nợ gây ra bởi sự kiện ấy.

Điều này chỉ xảy ra: a) khi việc thanh toán nghĩa vụ nợ này do pháp luật bắt buộc; hoặc b) lúc với nghĩa vụ nợ liên đới, lúc sự kiện này (có thể là một hoạt động của DN) dẫn tới sở hữu ước tính đáng tin cậy để bên vật dụng ba kiên cố là DN sẽ thanh toán khoản nợ nên trả đó.

Bản chất báo cáo tài chính (BCTC) của DN là nhằm phản ánh tình hình tài chính của DN tại 1 thời điểm và 1 thời kỳ xảy ra trước đó, do đó các khoản dự phòng không nhằm phản ánh các khoản mức giá cần phải có cho hoạt động của DN trong tương lai, mà chỉ với liên quan tới những sự kiện xảy ra độc lập trong quá khứ, nhưng mang ảnh hưởng đến thuận tiện kinh tế của DN trong tương lai thông qua 1 nghĩa vụ nợ phát sinh.

Ví dụ: DN thực hiện trích lập dự phòng cho 1 khoản buộc phải trả do bị phạt vi phạm pháp luật về môi trường. Khoản bị phạt này là do các hoạt động buôn bán đã diễn ra trước đó của DN, nhưng với ảnh hưởng đến tiện lợi kinh tế của DN trong tương lai, chứ không phải là những khoản bị phạt do hoạt động của DN trong tương lai.

Trích lập dự phòng và những điều cần lưu ý

Trích lập dự phòng và các điều buộc phải chú ý

Sự giảm sút tiện lợi kinh tế sở hữu thể xảy ra

Điều kiện ghi nhận 1 khoản nợ là khoản nợ ấy phải là khoản nợ hiện nay và với khả năng làm cho giảm sút tiện lợi kinh tế do việc thanh toán khoản nợ đó.

Việc ghi nhận một khoản trích lập dự phòng (khoản nợ) cần đi kèm với điều kiện phát sinh những tác động đến tiện dụng kinh tế của DN trong tương lai thông qua việc thanh toán nghĩa vụ nợ đấy (trong ví dụ nêu trên chính là việc thanh toán cho khoản tiền nộp phạt).

Tuy nhiên, không nhất thiết DN buộc phải xác định cụ thể đối tác được hưởng quyền lợi từ nghĩa vụ nợ của DN (với ví dụ trên, DN có thể sẽ phải chi trả khoản tầm giá khắc phục những ảnh hưởng tới môi trường và người hưởng lợi là cộng đồng kể chung).

Ước tính đáng tin cậy về nghĩa vụ nợ cần trả

các khoản trích lập dự phòng về bản chất đều làm trên cơ sở ước tính, đây là cơ sở quan trọng, nhưng nó ko khiến mất đi độ tin cậy của các số liệu trên BCTC giả dụ DN đưa ra được những căn cứ tin cậy cho công việc ước tính những khoản trích lập (các khoản nợ). Đây cũng là bắt buộc phải với DN khi trình bày các khoản trích lập dự phòng trên BCTC.

Trong giả dụ DN thiếu các cơ sở tin cậy để ước tính nghĩa vụ nợ cho việc trích lập dự phòng, DN sẽ ghi nhận khoản nợ ước tính này như một khoản "nợ tiềm tàng" trên BCTC (đây là thuật ngữ chỉ các khoản nợ mà DN có thể ước tính được, nhưng khả năng phát sinh là chưa kiên cố, bởi thế DN cần trình bày riêng biệt theo các tiêu chí được quy định cụ thể trong Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 18).

0 nhận xét:

Đăng nhận xét